Accueil   Plan du site   Contacts   Liens   Administration
Communauté Vietnamienne 
Lời chào
Tiểu Sử
Tổ Chức
Phụng Vụ
Sinh Hoạt
Tin Tức Đó Đây
Hội Cap-St-Jacques
Trang Bạn Đọc
Nhắn tin & rao vặt
Album

Tiểu Sử



 Marseille : môt hải cảng nhìn về Châu Á và Châu Phi.


Trong thời kỳ giao thông đường biển còn thịnh hành, đa số các nhà truyền giáo Pháp sang Viễn Đông hay sang Phi Châu đều lấy tàu tại Marseille, và các tàu chở khách hàng về Pháp cũng cập bến tại Marseille. Nhiều dòng truyền giáo có trụ sở tại đây, để đưa đón các vị thừa sai. Ngôi mộ của Đức Cha Lefèvre, vị sáng lập các dòng Mến Thánh Giá Việt Nam vẫn còn nằm đó. Nói cách khác, từ lâu đời, Giáo phận Marseille đã có ơn kêu gọi truyền giáo, và các chủng viện đã tiếp đón nhiều linh mục hay chủng sinh Việt Nam du học, trong đó có Cha Triêu (Sàigòn, đã qua đời), Cha Quý (Đại chủng viện Huế), Cha Ngọc (Hiện là quản lý giáo phận Nha trang), và người sau cùng là cha Phêrô Thông, đang đứng đầu ban tuyên úy các trường trung học công lập.

Vì là một hải cảng lớn, Marseille thu nhận rất nhiều di dân đủ mọi quốc tịch, cách riêng là những người Việt Nam làm công nhân trên các tàu hành khách. Mặt khác, vì Marseille cũng là một đầu cầu liên lạc giữa Pháp và các thuộc địa Đông Dương, quân đội viễn chinh sang Việt Nam khởi hành từ Marseille, và sau năm 1954, nhiều người Việt Nam có quốc tịch Pháp hay đang làm việc cho Pháp từ bỏ Việt Nam và cập bến tại Marseille, một số đã chọn nơi này làm quê hương thứ hai. Đồng thời, một số quân nhân người Pháp có vợ Việt cũng đưa gia đình về Marseille sau một thời gian bị gửi sang Algérie.

Cách chung, vào những năm người Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam (1955-1956), số người Việt ngày càng gia tăng tại Marseille. Và từ đó, nơi này nơi nọ, có một vài linh mục người Pháp từ Việt Nam trở về đã chịu khó thăm viếng các gia đình có người Việt, không phân biệt tôn giáo . Trong khung cảnh đó, vào khoảng các năm 1960-1965 (nếu không phải là sớm hơn), có một linh mục Pháp thuộc tu hội Xuân Bích về sinh sống tại Vins-sur-Caramy (Var), từ làng quê này, hàng tháng, hàng tuần, Cha Courtois (Bùi Xuân Lịch) thường xuyên đi thăm viếng và dâng thánh lễ cho người Việt trong các vùng Toulon, Marseille, Avignon, Nîmes, Montpellier, với danh nghĩa là « Mission Catholique Vietnamienne », được Ủy Ban Giám Mục phụ trách ngoại kiều thời đó công nhận. Đợt cuối cùng của người VN tại Marseille là những người tị nạn sau 1975.

Vào khoảng năm 1965-1966, không hiểu vì lý do nào, một nhóm nhỏ gồm vài gia đình người Việt tự động sang Tây Ban Nha, tìm Cha Giuse Trương Quang Cảnh (Dòng Đa Minh) , vận động xin cho Ngài về Marseille. Cha Cảnh cư ngụ tại nhà xứ Saint-Victor, đảm nhiệm văn phòng tuyên úy Việt Kiều (Aumônerie Catholique des Vietnamiens de Marseille), và mỗi chiều Chúa Nhựt dâng thánh lễ cho Người Việt tại Nhà thờ Saint-Victor, một nơi cổ kính có hài cốt các thánh tử đạo. Bắt đầu từ đó Cha Courtois rút lui khỏi Marseille, cũng như sau này, cuối năm 1970, Cha đã nhường mục vụ người Việt tại Montpellier cho một linh mục sinh viên Việt Nam, đến đây từ tháng 9 năm 1967.

Từ 1966 đến 1981, trong vòng 15 năm, Cha Cảnh tận tụy với người Việt. Là một người có học thức và đầy phong độ, Cha được bề trên quí chuộng. Nhưng trong những năm sau cùng, Cha gặp nhiều khó khăn, một phần vì bất đồng quan điểm với ủy ban giáo phận phụ trách tân tòng, một phần vì nạn nồi da xáo thịt trong cộng đồng người Việt, ngày càng trở nên phức tạp : người Việt "cũ", người Việt sang Pháp với tính cách tự do như sinh viên, du lịch..., người Viêt làm hàng cơm, người Việt làm hãng tàu, người Việt tị nạn sau 1975, người Việt "quốc gia", người Việt tỵ nan, người Viêt "cộng sản", người Bắc, người Nam, v.v. Sau cùng, Cha đã trình sự việc với Đức Cha Etchegaray và âm thầm ra đi không từ giã cộng đoàn và không để lại địa chỉ.

Hơn một năm, Cộng đoàn Marseille không có linh mục tuyên úy. Tháng 7 năm 1982, Đức Cha Etchegaray giao cho Cha Antôn Phải công việc "bắt mạch" tình hình người Việt, và giữa năm 1983, Ngài chấp nhận danh xưng Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam và đặt Cha Phải làm quản nhiệm.
(Cha Antôn Phải, người gốc Mỹ-Tho, được Đức Cha Giuse Trần Văn Thiện gửi đi du học. Sau biến cố 30/4/75, và mãi mãi về sau, cho đến ngày nay, vì không linh mục nào được Nhà Nước cho phép hồi hương thường xuyên phục vụ, Cha đã xin tá túc nơi giáo phận Marseille, kể từ tháng 2 năm 1976.)


 Cộng Đoàn Marseille từ 1983 đến 1985


Mgr Etchgaray
Cliquer pour agrandir

DCEtchegaray

Đức Cha Etchegaray đă đồng ý với Cha Phải về mục đích chính của Cộng Đoàn là tạo hoàn cảnh thuận lợi để người Việt có thể thờ phượng Chúa và nâng đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày. Trong cộng đoàn, mỗi người cố gắng quên mình nghĩ đến người khác. Ngân quỹ của cộng đoàn là do anh em đóng góp, có đến đâu chi dụng đến đấy. Khi cần, số tiền đó có thể chia xẻ với những người túng thiếu. Trong tinh thần tự lập, cộng đoàn không nhận trợ cấp của Giáo Phận, và chịu trách nhiệm sư tiêu xài của mình.
Trong thời điểm này, 3 giáo xứ ngoại kiều da trắng tại Marseille đã hầu như mất hết thực chất :

1. đa số giáo dân không còn siêng năng đi lễ ngày Chúa nhựt,

2. trẻ con lớn lên, vì không biết tiếng mẹ đẻ, ngày càng xao lãng các sinh hoạt cộng đồng,

3. số linh mục ngày càng bớt đi, vì tuổi tác, sức khỏe hay thiếu người xung phong tăng cương nhân lực.

Vì những lý do đó mà Đức Cha Etchegaray và vài người trong ban cố vấn của Ngài nghĩ rằng Cộng đoàn Công Giáo Việt Nam sẽ là một tổ chức có giới hạn trong thời gian. Nói cách khác, Cộng Đoàn mang tính cách tạm thời, trong giai đoạn chuyển tiếp giúp giáo dân Việt Nam hội nhập vào Giáo Hội Pháp. Một ít người trong ban tổ chức của Cộng Đoàn không đồng ý, trong đó có Ông Huỳnh văn Thiềng là người đã nhiều năm sinh hoạt với Cha Giuse Trương Quang Cảnh.
Đây cũng là giai đoạn mà đa số người Việt Nam rất nhạy cảm về pương diện chính trị : các hội đoàn đều đặt nặng vấn đề "chống cộng" , nên thường có sự căng thẳng và chụp mũ cho nhau. Cộng đoàn công giáo Marseille cũng không tránh khỏi khó khăn này : đó là một căn nguyên chia rẽ làm mất mát rất nhiều nghị lực.

Ngay từ những tháng đầu tiên, vì phải đối phó với « cám dỗ » làm chính trị phe nhóm, nên trong bản tin ngày 21-3-1983, Cộng Đoàn đã tuyên bố lập trường như sau :

1. Cộng Đoàn là một tổ chức thuần túy tôn giáo, trực thuộc địa phận Marseille. Cộng đoàn gồm tất cả mọi người muốn nhiều lần trong năm họp nhau thờ phượng Chúa và sống đạo trong tình đồng bào tương thân, tương trợ.

2. Tổ chức này dựa trên tinh thần bác ái và nghèo khó Phúc Âm. Trong cộng đoàn, mỗi người cố gắng quên mình để nghĩ đến tha nhân. Ngân quĩ của cộng đoàn là sự đóng góp tự do của giáo dân để dùng vào việc chung.

3. Cộng đoàn cố gắng sống cởi mở, luôn sẳn sàng tiếp đón tất cả đồng bào, vì tất cả đều là con Chúa. Với tính cách đoàn thể tôn giáo, cộng đoàn không làm chính trị, nhưng trên bình diện cá nhân, mỗi người đều có quyền tự do hành động.

Về mặt xã hội, đây là lúc đa số người Pháp đang chiều chuộng người tị nạn gốc Đông Dương (Việt-Miên-Lào), nên bù lại, đó cũng là một niềm an ủi .
Lúc xưa, hàng tuần, Cha Cảnh dâng thánh lễ cộng đoàn tại Saint-Victor, nhưng theo ý ủy ban mục vụ ngoại kiều, thánh lễ tập thể này, nên cử hành mỗi tháng một lần, để cho giáo dân Việt Nam giữ liên lạc với xứ đạo Pháp, nơi họ cư ngụ. Anh em giáo dân tụ họp tại nhà chung, khi xưa là tiểu chủng viện, có bãi đậu xe và nhiều phòng ốc.


 Cộng Đoàn Marseille từ 1985 đến 2003



Cliquer pour agrandir

Đức Cha Dufaux và Cha Tổng Đại Diện Dufour

Sau một thời gian tìm kiếm và bàn hỏi, Đức Cha Dufaux, giám quản tông tòa,  đã cho cộng đoàn Marseille được "cắm dùi" tại Giáo Xứ Saint-Défendent kể từ tháng 9 năm 1985. Đây là một xứ đạo nhỏ có dân số 8 ngàn người, nằm giữa thành phố. Cùng đến giáo xứ với Cha Phải, lúc đó có Cha Antoine Pezeu, thuộc Hội Thừa Sai Paris, khi xưa là Cha sở nhà thờ Cai-Lậy, địa phận Mỹ Tho. Cha đã xin vào nhà hưu dưỡng năm 1991, sau khi được 80 tuổi tròn.
Vì Cha Phải là người chịu trách nhiệm cho cả hai cộng đoàn Pháp và Việt,  nên việc sắp xếp các sinh hoạt ít khi  gặp khó khăn cho đôi bên cùng sống dưới một mái nhà.


 Cộng đoàn Marseille được bao nhiêu người ? 300 ? 1000 ? 2000 ?


le Cardinal Archevêque de Marseille 2005
Cliquer pour agrandir

Mon fils est revenu...

Đó là câu hỏi thường nghe, nhưng rất khó trả lời cách chinh xác.Thú thật, con số nào cũng đúng hết, và con số nào cũng sai hết. Thí dụ giáo xứ Saint-Défendent : trong 8 ngàn người, có chừng 1500 người là ngoại quốc, tin lành, do thái, phật giáo, hồi giáo...Còn lại 6500 người đã chịu phép rửa tội, trong đó có chừng 200 người đi lễ ngày Chúa nhựt một cách thường xuyên. Những người còn lai : họ chỉ đến nhà thờ khi có cơ hội đặc biệt, có người làm nhiều việc thiện, có người không, có người sống trong sự rối rắm, có người cho con cái theo học giáo lý, có người không...Vậy, hỏi giáo xứ Saint-Défendent có bao nhiêu giáo dân?

Trở lại cộng đoàn Marseille, ngoài những tiêu chuẩn vừa nêu lên, còn có một sự phân chia theo khía cạnh gia đình, ngôn ngữ hay quốc tịch. Cách chung, một cặp vợ chồng 70 tuổi hiện nay trung bình có thể có 3 con, trai hay gái, Qua đời thứ ba, có 27 em bé chào đời, cộng với hai đời trước là 14 người, chung hết là 31 người lớn và trẻ con. Nếu tính 50 cặp vợ chồng 70-75 tuổi, ta sẽ có khoảng 1550 người lớn bé. Nếu tính 500 cặp, chúng ta sẽ có 15 500 người. Nhưng thử hỏi trong số 15 500 người đó ai có thể được kể là người Việt Nam? Và trong số 15 500 ấy, có bao nhiêu người gọi là « có đạo »? Những người Việt, mặc dù có đạo, nhưng nhất định chỉ " đi lễ Tây cho khỏi nhiều chuyện", hay chỉ đi lễ cộng đoàn khi có lễ hội, ăn uống, vui chơi, chúng ta có thể đặt họ vào thành phần nào? Cộng đoàn hay không cộng đoàn? Cha mẹ đi lễ Việt, nhưng con cái từ chối, vì không hiểu tiếng Việt hay vì vài lý do khác : đặt chúng vào thành phần nào ?

Tại Saint-Défendent, thánh lễ đầu tháng qui tụ trên dưới chừng 100 người lớn có xe riêng. Các Bà lớn tuổi không thích đi xe buýt ngày Chúa nhựt vì phải chờ đợi lâu, các bà chỉ đi « lễ nhóm » ngày thường trong tuần: Đặt các Bà vào thành phần nào?


 Đâu là đường hướng của sinh hoạt Cộng Đoàn?


Chiều họp mặt
Cliquer pour agrandir

Đức Cha My Tho thăm CĐ 10/2005

Đa số các sinh hoạt nhằm nâng đỡ đời sống thiêng liêng, ngày qua ngày : Thánh lễ, cầu nguyện theo nhóm nhỏ (Mai Khôi, Phạt Tạ, Các Đẳng Linh Hồn, Thăm Viếng). Tầng cao hơn là hội họp, bàn tính, chia xẻ, để người tín hữu biết dấn thân làm việc tông đồ, trong cộng đồng người Việt hay trong các xứ đạo Pháp. Có người đang nằm trong »văn phòng » của Hội Đồng Mục Vụ Giáo Phận, có người khác làm việc trong ủy ban tân tòng giáo phận (catéchuménat), v.v. Chiều xa là đi từ « cho ăn – asistance religieuse » đến » dấn thân truyền giáo- engagment misionnaire », nhưng con đường vừa dài, vừa nhiều khó khăn. Thêm vào đó, cộng đoàn ngày càng yếu kém về mặt nhân sự : đau ốm, tử vong ; hay nếu là những người trẻ, họ phải đi xa tìm việc làm, như trường hợp đa số các Huynh Trưởng Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể.
Về phần truyền thông, trong nhiều năm mỗi tuần Cộng Đoàn có 45 phút phát thanh trên đài của giáo phận ; nhưng sau vì quá bị gò bó trong vấn đề ngôn ngữ, nên Anh Em xin ngưng hoạt động. Đồng thời, tin tức được loan truyền bằng miệng, hay trên một tờ giâý nhỏ, mỗi khi có thánh lễ đầu tháng.

Trong phạm vi xã hội vào những năm 80, tùy hoàn cảnh và thời điểm, đã có những lớp Pháp văn cho người Việt tỵ nạn, có những lớp Việt văn cho người Pháp hay Việt lai Pháp. Hiện giờ chỉ còn một lớp Việt ngữ dành cho Thiếu Nhi Thánh Thể.

Cũng trong quá khứ (1984-1994), vài xứ đạo và nhà dòng đã cho Cộng Đoàn mượn nhà ở, tổng cộng chừng 500 thước vuông, để tiếp đón những người tỵ nạn nghèo. Chương trình này cũng đã chấm dứt vì nhu cầu đã thay đổi.


 Tương lai ?


Nhiều cộng đoàn ngoại quốc như Yphanho, Ý, Balan, Bồ Đào Nha, đã biến chuyển rất nhiều : con cái không còn đi một đường hướng với Cha Mẹ. Họ cũng không còn thánh lễ riêng. Có thể nói Cộng Đoàn Việt Nam cũng đang đi con đường đó, con đường «mẹ gà nuôi con vịt ». Đây là chưa kể nhưng khó khăn về nhân lực phía tuyên úy, cũng như phía các « cán bộ », mà các Cộng Đoàn da trắng đã gặp.
Nếu trong tương lai, cộng đoàn Việt Nam còn có thể sống mạnh, thì nó chỉ có thể sống mạnh với một hình thức nào khác, chớ không thể sống vì được « duy trì » như có vị thường nói và so sánh với những cộng đoàn bên Mỹ Châu hay Úc Châu. Nước Pháp không phải là nước Mỹ. Cuộc đời là biến chuyển, là « bãi bể nương dâu », người xưa cũng nói : « Tout change, on ne se baigne jamais deux fois dans le même fleuve ».

10/07/2003
Linh Mục Nguyễn văn Phải


Communauté Vietnamienne - Vie Paroissiale - Informations - Solidarité - Foi & Culture - Dernières nouvelles
© Paroisse Saint Défendent
Mentions légales